Yếu tố nào nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam?


Ngày 5/11, ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh, Báo Giáo dục và Thời đại đã tổ chức hội thảo khoa học “Các giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục đại học”, quy tụ trên 40 tham luận của các chuyên gia giáo dục, nhà khoa học, quản lý giáo dục và cán bộ giảng dạy các trường đại học trong, ngoài nước. Hầu hết những giải pháp đưa ra để nâng cao chất lượng đào tạo bậc đại học đều nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất: con người.

 


Chương trình đào tạo ngày càng xa… chuẩn thế giới?
Theo nhiều đại biểu tham gia hội thảo, hiện chương trình đào tạo của đại học Việt Nam là có vấn đề, nhiều bất cập và thực tế chưa được các nước thừa nhận! GS, TSKH Đỗ Trần Cát, Tổng thư ký Hội đồng học hàm nhà nước, thừa nhận một thực tế: “Trong các thập kỷ 70, 80 của thế kỷ trước, người Việt Nam đi học nghiên cứu sinh ở nước ngoài chỉ cần có bằng đại học. Sang đến thập kỷ 90, khi chúng ta coi cao học là sau đại học, các nước yêu cầu người Việt Nam học nghiên cứu sinh phải có bằng thạc sĩ. Nhưng sang thế kỷ 21, một số nước phát triển đã bắt đầu không công nhận thạc sĩ của Việt Nam mà bắt các nghiên cứu sinh của ta phải thi lấy bằng thạc sĩ của họ sau đó mới nhận làm nghiên cứu sinh, dù những người này đã có bằng thạc sĩ của Việt Nam”.

Thực tế, hiện ở Việt Nam bậc đại học chỉ là dạy nhiều môn của cao đẳng, cao học thì dạy nhiều môn của đại học vì thế về trình độ khó khẳng định thạc sĩ cao hơn cử nhân hay kỹ sư một bậc. Chính việc để cao học tách khỏi đại học khiến chương trình đào tạo đại học ở Việt Nam có khuynh hướng “nâng lên một bậc”: trung học chuyên nghiệp thành cao đẳng, cao đẳng thành đại học, đại học thành sau đại học. Đây cũng là lý do tất cả các bậc học đều có vấn đề về chất lượng! Về vấn đề này, ông Đỗ Trần Cát đã đưa ra một đề nghị cụ thể: “Bộ nên soạn thảo một chương trình duy nhất đối với mỗi môn học chung cho 3 mức học: cao đẳng, cử nhân, kỹ sư, bác sĩ – dược sĩ (hoặc cao học) sao cho chương trình của 3 mức này không lặp lại: học 3 năm cấp bằng cao đẳng, thêm 1 năm với chương trình bổ sung được cấp bằng cử nhân, học thêm 1-2 năm nữa với chương trình bổ sung được cấp bằng kỹ sư hoặc thạc sĩ. Sau đại học chỉ nên là nghiên cứu sinh”.

Giảm quy mô có tăng chất lượng?

Để đảm bảo chất lượng, có ý kiến cho rằng không được tăng số lượng, tức phải giảm quy mô đào tạo hiện nay! GS, TSKH Lâm Quang Thiệp, ĐH Quốc gia Hà Nội, cho rằng: “Quả thật số lượng sinh viên nước ta tăng nhanh nhưng vẫn chưa đủ nếu muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Hơn nữa không phải giảm số lượng thì mặc nhiên có chất lượng”. Để giải quyết bài toán số lượng-chất lượng, theo ông Thiệp “cần phải phân luồng học sinh ngay từ bậc học thấp bằng cách quy hoạch một hệ thống trường dạy nghề thích hợp để giảm lưu lượng dòng học sinh vào đại học”. Ở bậc đại học, theo đề nghị của ông Thiệp, cần phân thành 2 dòng chính: Trường đại học truyền thống với các loại hình đào tạo chính quy, đòi hỏi cao về chất lượng đầu vào và hạn chế số lượng; Các trường đại học mở, không cần đòi hỏi cao về chất lượng đầu vào và cũng không hạn chế số lượng.

Cán bộ giảng dạy: thiếu, yếu

Phần lớn các đại biểu tham gia hội thảo đều thừa nhận yếu tố quan trọng nhất để nâng cao chất lượng đào tạo là phải có người thầy giỏi nhưng thực tế hiện nay lực lượng này “thiếu về số lượng, yếu về chất lượng”. Theo nghiên cứu của PGS, TS Nguyễn Kim Hồng – Phó hiệu trưởng trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh, nhiều trường đại học, số cán bộ giảng dạy có trình độ tiến sĩ chỉ khoảng 10-25%, trong đó có nhiều người không còn khả năng nâng cao hơn nữa học vấn và gặp nhiều khó khăn về ngoại ngữ”. GS, TS Lê Ngọc Trà – Viện trưởng viện Nghiên cứu giáo dục trường ĐH Sư phạm TP Hồ Chí Minh – hết sức thẳng thắn khi thừa nhận: “Nhiều năm qua những người được giữ lại trường làm cán bộ giảng dạy có thật sự giỏi không?”. Theo hướng này, ông đề xuất 2 cách chọn thầy giỏi: Chọn những sinh viên có khả năng nghiên cứu khoa học, sáng tạo chứ không phải sinh viên đạt điểm cao, ngoan ngoãn. Không nên chỉ giữ sinh viên ở khoa mình, trường mình làm cán bộ giảng dạy vì có nguy cơ lập lại thầy mình. PGS, TS lương Ngọc Toản – nguyên thứ trưởng Bộ GD-ĐT – cho rằng “phải có ngay quy hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ giảng dạy cho các trường đại học, đặc biệt phải có chế độ đãi ngộ thỏa đáng”. Theo dự báo, đến năm 2012, số sinh viên/vạn dân của Việt Nam sẽ đạt mức như Thái Lan hiện nay. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, số giảng viên cần có là 109.620 người (so với 33.400 hiện nay). Theo ông Nguyễn Kim Hồng: “Đây là một tốc độ tăng trưởng mà nếu không có sự can thiệp mạnh tay của Nhà nước thì không thể” !

Cần đổi mới nhận thức của cán bộ quản lýTrong các giải pháp đề xuất tại hội thảo, TS Trần Đăng Thao – Tổng biên tập Báo Giáo dục và Thời đại cho rằng đổi mới tư duy là điều kiện tiên quyết, trong đó đổi mới quản lý là nhiệm vụ hàng đầu trong bước đột phá của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam. Muốn phát triển giáo dục ĐH VN, tất yếu phải củng cố và phát triển đội ngũ quản lý, với yêu cầu những người này phải giàu năng lực tư duy đổi mới, giàu trí tuệ và khoa học; nếu không chuẩn bị tốt đội ngũ quản lý thì các điều kiện và thành tố tiếp theo dẫu có được chuẩn bị tốt và chu đáo đến đâu cũng không thể nào tạo ra một hệ thống giáo dục tốt đẹp được. TS Lê Văn Hảo, ĐH Thủy sản, Nha Trang, nhận định dấu ấn quản lý tập trung bao cấp vẫn còn in rất đậm trong cách nghĩ, cách làm của hầu hết cán bộ quản lý ĐH của chúng ta. Trước đây các trường ĐH tổ chức đào tạo, thậm chí nghiên cứu khoa học theo kế hoạch được giao, sản phẩm của đào tạo và nghiên cứu khoa học đều có cấp trên “bao tiêu”, không quan tâm đến cạnh tranh, đi tìm thị trường, hay quảng bá cho các sản phẩm của mình. Trong bối cảnh hiện nay, tính cạnh tranh giữa các trường ĐH trong nước ngày càng sôi động, vì vậy trường ĐH cần phải tìm đến “khách hàng” của mình (người học, các cơ quan doanh nghiệp…) một cách chủ động và bài bản hơn. PGS-TS Nguyễn Thiện Tống (Trường ĐH Bách khoa, TP.HCM) cho rằng: “Trong hơn 40 năm qua, nhược điểm lớn nhất của hệ thống giáo dục ĐH nước ta là sự tách rời giữa các trường ĐH với các cơ quan nghiên cứu khoa học. Sự tách rời này làm cho những người làm khoa học ít được tham gia giảng dạy và cán bộ giảng dạy ĐH cũng bị hạn chế trong việc tham gia nghiên cứu khoa học, sinh viên ít được tiếp cận những tri thức từ những nhà khoa học giỏi. Chính sự tách rời này làm cho trường ĐH chưa thực sự là trung tâm chất lượng về đào tạo và nghiên cứu khoa học. Phải đổi mới nhận thức từ các cấp quản lý giáo dục, nếu không chúng ta sẽ không bắt kịp xu thế chung của thế giới”.

Nhựt Quang

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: